Khẩu nghiệp!

Mặt trái của mạng xã hội ở Việt Nam đang phá hỏng tâm tính lành thiện của con người, đặc biệt là giới trẻ. Việc ai cũng có thể chửi rủa, phán xét một cách tàn nhẫn, hùa theo, không suy nghĩ và thiếu bao dung, đã làm khẩu nghiệp của chúng ta nặng thêm.

Khẩu nghiệp từ đâu ra?

Chúng ta có thân này là do nghiệp. Nghiệp được hiểu đơn giản nhất, đời thường nhất là thói quen.

Nếu ta thường xuyên sống bình an, nhẹ nhàng, thanh tịnh, vô ngã vị tha thì chúng ta tạo nghiệp thiện, được sinh về các cảnh giới thiện lành, được làm chư thiên và làm người hạnh phúc.

Nếu chúng ta thường xuyên tức giận, quát nạt kẻ khác, ức hiếp người khác sẽ tạo nghiệp không lành và có thể sinh về cõi atula (hiểu nôm na, cõi này chỉ biết sân hờn giận, đánh nhau chứ chẳng làm gì ngoài những trạng thái đó).

Nếu chúng ta tham lam, bỏn sẻn, keo kiệt thì tạo nghiệp ác và sinh về cõi dữ là ngạ quỷ. Nếu chúng ta cướp bóc, giết người, ngày đêm làm những việc xấu thì tạo nghiệp rất ác và sẽ sinh về địa ngục.

Trừ những người vô minh quá, còn lại đa phần tin vào luật nhân quả, tin rằng sống tốt được may mắn, sống ác bị gặp nhiều chuyện xấu.

Gieo nhân nào gặt quả đó. Quả chẳng trổ ngày nay thì ngày mai, không kiếp này thì kiếp tới. Nhân quả thật rõ. Nghiệp là luôn đúng.

Tuy nhiên vẫn có những người nghĩ rằng nghiệp chỉ do các hành động của mình gây ra mà không biết rằng nghiệp là do cả 3: thân, khẩu, ý thức do các hành động việc làm cũng như do lời nói và các suy nghĩ.

Ở đây tôi chỉ bàn về khẩu nghiệp, tức các nghiệp do lời nói sinh ra.

Cẩn thận, nói đúng, nói trúng thời điểm

Khẩu nghiệp là nghiệp do lời nói gây ra. Bất cứ những gì ta nói ra đều có tác động lợi hoặc hại, tốt hoặc xấu, xảy ra ngay tức thì hoặc để lại hậu quả sau này.

Khẩu nghiệp lành từ các lời nói tạo ra những kết quả tốt lành, làm lợi cho chính người đó và những người liên quan.

Khẩu nghiệp ác từ các lời nói tạo ra những hậu quả xấu, làm hại cho chính người nói ra và những người liên quan. Khẩu nghiệp còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng, cả xã hội.

Nếu chúng ta biết ái ngữ, tức nói lời hay, ý đẹp thì chính mình và những người xung quanh được hưởng.

Người có trí tuệ, có hiểu biết đúng đắn về khẩu nghiệp thường rất cẩn thận khi nói. Họ biết cách nói đúng, nói trúng, cả về nội dung lẫn thời điểm.

Người có trí tuệ biết cách nói để không làm phiền lòng người nghe. Khi thấy một người trong cơ quan hay trong gia đình, nhóm bạn đang làm một việc sai trái họ cũng tìm cách nói khéo léo và nói vào thời điểm hợp lý.

Người có trí tuệ hiểu rõ khẩu nghiệp nên chỉ sử dụng lời nói khi cần thiết, nói để đạt được kết quả mà mình mong muốn mà không làm tổn thương đến người nghe.

Người có trí tuệ thường nói với tâm Phật, tức dùng từ bi hỷ xả để nói. Trước khi nói, thậm chí họ ngồi cho lắng lòng, cho tâm thanh tịnh rồi mới nói.

Bí quyết để không tạo khẩu nghiệp

Chúng ta có thể thực tập 1 cách làm rất đơn giản là hít thở 3 hơi thật nhẹ, thật êm để tĩnh tâm và thư giãn trước khi nói. Lúc đó sẽ bớt đi những lời nói vô ích và không hợp lý, thậm chí là xấu.

Người có trí biết rõ nếu lời mà mình chuẩn bị nói ra có thể mang lại hậu quả xấu thì thường không nói hoặc chưa nói.

Bởi nếu ta nói ra mà ta không kiểm soát được lời nói thì ta tạo khẩu nghiệp xấu. Mà khẩu nghiệp xấu chắc chắn để lại hậu quả xấu, hoặc ngay tức thì, hoặc dài lâu.

Ai cũng muốn nghe những lời hay tiếng đẹp. Ta cũng vậy. Cớ gì ta nói những lời không dễ thương.

Tôi hay tự nghĩ: liệu người nghe có muốn nghe những lời mình nói không. Nếu câu trả lời rằng không thì thường là tôi cố gắng không nói.

Nói ra mà gây hận thù, oán ghét thì chính ta tạo nghiệp xấu. Nghiệp xấu lôi ta trôi lăn trong sanh tử luân hồi với khổ đau triền miên.

Đức Phật có dạy, trong mười nghiệp của con người thì khẩu nghiệp là bốn, tức gần một nửa. Đó là: Chuyện không nói có, chuyện có nói không; Nói lời hung ác; Nói lưỡi hai chiều; Nói lời thêu dệt.

Khẩu nghiệp ác là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà chúng ta tạo ra. Ai cũng biết rằng vết thương trên thân thể dễ lành hơn vết thương gây ra do lời nói.

Người có trí tuệ thường nhớ đến 4 khẩu nghiệp xấu nêu trên để tránh.

Vì vậy, người có trí tuệ thực tập chỉ nói sự thật, không bịa chuyện. Họ cũng tập nói những lời nhẹ nhàng êm dịu, dễ nghe.

Họ không nói lưỡi hai chiều, ngồi đây nói trắng đến chỗ khác lại nói đen. Họ thực tập không bịa chuyện, không thêu dệt câu chuyện, không nói sai sự thật. Họ thường không nói những gì mà mình không biết chắc chắn là có thật.

Bệnh từ miệng, họa từ miệng

Tôi vẫn nhớ những câu nói ông nội dạy từ xưa. Đại loại rằng, người trên đời này búa để trong miệng, con người giết nhau là do lời nói ác.

Ông tôi cũng dạy rằng bệnh từ cái miệng do ăn uống mà đem vào, họa cũng từ cái miệng do nói bậy bạ mà ra.

Ông dạy tiếp rằng mở miệng nhiều lời sẽ hao tổn thần khí, lưỡi nói chuyện phải trái, hơn thua, đẹp xấu, khen chê, sẽ dẫn đến tranh đấu, tranh cãi sinh ra lắm chuyện, thậm chí hậu quả nghiêm trọng.

Ông nói chữ nôm, chữ hán nhưng tôi chỉ nhớ nội dung. Nhờ ông nội dạy từ nhỏ nên tôi luôn lưu ý mỗi lời nói của mình. Tránh tối đa khẩu nghiệp ác.

Lớn lên tôi học Phật, học chánh pháp. Và tôi phát hiện ra rằng ngoài 4 khẩu nghiệp nêu trên, chúng ta còn cần lưu ý thêm các nghiệp khác từ miệng như ăn uống lãng phí, ăn uống cầu kỳ, quá đòi hỏi trong ăn uống.

Tôi cũng lưu ý mình khi phê bình người khác, khi chê bai người khác, khi khen người khác. Tôi học được và luôn nhắc mình thực tập không rêu rao lỗi của mọi người, nếu thấy lỗi thì khuyên bảo và nhắc nhở.

4 hạng người nên tránh

Trong kinh, Đưc Phật dạy, có 4 hạng người chúng ta nên tránh trở thành. Đó là những kẻ hay nói lỗi người khác, những kẻ hay nói chuyện mê tín, tà kiến, những kẻ miệng nói ra những lời tốt nhưng tâm lại xấu, những kẻ làm ít kể nhiều. Tôi luôn nhắc mình mỗi ngày.

Người có trí thường ăn uống tiết kiệm. Vậy nên để giữ khẩu nghiệp, tôi thường nhắc mình cùng các bạn bè và người thân ăn bao nhiêu gọi bấy nhiêu thức ăn, ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu, không để thừa.

Dù có giàu đến cỡ nào nhưng nếu không tiết kiệm, tiền của cũng hết. Hơn thế nữa chúng ta cần hiểu rằng tài sản và của cải của kiếp này là do nghiệp lành, do phước đức từ kiếp trước để lại.

Nếu ta chỉ biết tiêu mà không biết kiếm tức tạo các nghiệp lành thì kho của kia chẳng mấy sẽ hết.

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy rằng, dù nói hàng ngàn lời nhưng không gì lợi ích, tốt hơn hãy nói một câu có nghĩa, nghe xong được tịnh lạc (Pháp cú số 100).

Hoặc không phải vì nói nhiều mới xứng danh bậc trí, an ổn không oán sợ thật đáng gọi bậc trí (Pháp cú 258).

Hoặc không phải vì nói nhiều là thọ trì chánh pháp, người nghe ít diệu pháp nhưng trực nhận viên dung, chánh pháp không buông lung là thọ trì Phật Pháp (Pháp cú số 259).

Tốt nhất là lưỡi, xấu nhất cũng là lưỡi

Nếu chúng có học Phật, biết nghiên cứu và thực hành những lời Phật dạy thì thật là tuyệt vời. Từ hiểu biết đúng đắn, ta áp dụng và cuộc sống và có kết quả ngay tức khắc, ta nhận được lợi lạc đầu tiên.

Viết đến đây tôi nhớ lại câu chuyện bố tôi kể nhiều lần. Chuyện rằng ông phú hộ kia yêu cầu cho giết lợn và chọn phần quí nhất của con lợn để nấu món ăn cho ông ta.

Đầu bếp mang lên cho ông một món ăn với phần quý nhất của con lợn là cái lưỡi. Khi được hỏi tại sao thì người đầu bếp trả lời rằng cái lưỡi là bộ phận quí nhất.

Nhờ cái lưỡi mà con người được nghe những lời êm dịu, nhẹ nhàng, yêu thương và hạnh phúc. Cái lưỡi cũng nói ra nhiều ý tưởng hay, nhiều dự án lớn, nhiều kế hoạch ích nước lợi dân. Nhờ cái lưỡi mà có khi cả xã hội được hưởng lợi.

Một lần khác ông phú hộ lại yêu cầu giết lợn và chọn một bộ phận xấu xa nhất làm cho ông một món ăn.

Đầu bếp mang lên cho ông ta món ăn mà bộ phận xấu xa nhất lại cũng là cái lưỡi lợn. Người đầu bếp giải thích rằng có nhiều lời nói giết chết mạng sống, có những lời nói xấu xa, tàn nhẫn làm tan nát gia đình, làm hủy hoại cả chế độ.

Chuyện bố kể làm tôi ngẫm sâu lắm. Khẩu nghiệp quả thật là rất lớn. Tôi luôn nhắc mình quan tâm khẩu nghiệp để có hành xử đúng, để có cuộc sống thiện lành trong kiếp này và các kiếp mai sau.

Sự thay đổi của người học trò đau khổ

Tôi nhớ rằng, tại các khóa thiền, chúng tôi hay thực tập thiền ca, tức thiền hát. Chúng tôi hát những bài hát rất có ý nghĩa để nhắc mình thực hành mỗi ngày.

Tôi rất thích bài hát sau:

“Lời qua (mà) tiếng lại

Giải quyết chi đâu

Sao không dừng lại?

Kẻo hố thêm sâu

Lời qua (mà) tiếng lại

Đưa ta tới đâu

Sao không dừng lại?

Thở nhẹ và sâu

Lời qua (mà) tiếng lại

Đưa ta tới đâu

Sao không thở nhẹ?

Mỉm cười nhìn nhau.”

Khi giận nhau chỉ cần hát bài này. Khi khó chịu, mâu thuẫn bức xúc, chỉ cần hát vào câu. Là tất cả êm xuôi.

Mong muốn của tôi rằng chúng ta nhắc nhau sống bình an thư giãn. Tôi hay nhắn tin cũng như viết trên facebook những câu dễ thương để mọi người đọc là có thể mỉm cười.

Tôi cũng nhắc bạn bè, người thân, đồng nghiệp và học trò “mỉm cười 10 giây” mỗi ngày. Lời khen ngợi, cám ơn, xin lỗi là những thứ tôi muốn mọi người cùng mình thực tập.

Tôi có một người học trò luôn đau khổ, chán chường, thất vọng, đầy tư duy tiêu cực. Tôi hướng dẫn em sống chánh niệm và ái ngữ. Tôi nhắc em mỗi ngày mỉm cười và nói lời hay, ý đẹp.

Chỉ vài tháng sau Tuấn có khuôn mặt tươi tắn, hạnh phúc. Mặt em trở nên sáng sủa và dễ thương. Sự cau có, cằn nhằn biến mất.

Tuấn tự nhiên được rất nhiều người yêu quý. Em thấy đời sống bây giờ khác xa trước. Tuấn như được đổi đời. Tu khẩu đổi hình là câu chuyện có thật của Tuấn.

Mong bạn cùng tôi thực hành ái ngữ và tu khẩu nghiệp thật tốt mỗi ngày nhé!

Nguồn CAFEF

Advertisements

Tại sao các mô hình kinh doanh lại thất bại: Mô hình ống (pipes) và mô hình nền tảng (platform)

Mình thấy đây là một bài rất hay và hữu ích để bắt đầu khởi nghiệp nên dịch chia sẻ mọi người: (Dịch từ http://platformed.info/why-business-models-fail-pipes-vs-platforms/)
Một cái nhìn cơ bản về các mô hình kinh doanh đang thay đổi như thế nào.
Tại sao hầu hết các mạng xã hội không bao giờ cất cánh?
Tại sao các sàn thương mại lại là mô hình kinh doanh rất khó?
Tại sao các doanh nghiệp khởi nghiệp có công nghệ tốt nhất vẫn hay thất bại?
Có hai dạng mô hình kinh doanh chính: mô hình ống (pipes) và mô hình nền tảng (platform). Doanh nghiệp khởi nghiệp của bạn có thể đi sai hướng nếu bạn xây dựng một nền tảng, nhưng lại sử dụng chiến lược của một mô hình ống.
Trước hết, chúng ta cùng xem một vài khái niệm:
Mô hình ống
Mô hình ống ở xung quanh chúng ta từ khi chúng ta có nền công nghiệp. Đây là mô hình chiếm phần lớn trong các mô hình kinh doanh. Các doanh nghiệp tạo ra sản phẩm, đẩy chúng ra thị trường và bán chúng cho khách hàng. Giá trị được tạo ra ở thượng nguồn và được tiêu thụ ở cuối nguồn. Đó là dòng tuyến tính, giống như nước chảy qua một cái ống.
Chúng ta nhìn thấy mô hình ống ở khắp nơi. Mọi sản phẩm tiêu dùng mà chúng ta sử dụng cơ bản đến với chúng ta qua mô hình ống. Tất cả lĩnh vực sản xuất hoạt động theo mô hình ống. Tivi và đài radio là những cái ống phun các thông tin ra chúng ta. Hệ thống giáo dục cũng là một cái ống, nơi giáo viên đẩy kiến thức của họ tới học sinh. Trước khi có internet, hầu hết nền công nghiệp dịch vụ cũng hoạt động theo mô hình ống này.
Mô hình này cũng đã được áp dụng trên internet. Các trang blog hoạt động theo mô hình ống. Một của hàng thương mại điện tử như Zappos cũng hoạt động theo mô hình ống. Các sản phẩm dịch vụ phần mềm SAAS (software as a service) cũng sử dụng mô hình ống, tức là phần mềm được doanh nghiệp tạo ra, và phân phối tới khách hàng theo mô hình: trả tiền khi sử dụng (pay-as-you-use).
Mô hình nền tảng
Trước khi có internet, chúng ta chưa bao giờ thấy mô hình nền tảng xuất hiện. Không giống như mô hình ống, mô hình nền tảng không chỉ tạo và đẩy sản phẩm ra. Nó còn cho phép những người sử dụng tạo ra và tiêu thụ giá trị. Xét trên khía cạnh công nghệ, các nhà lập trình bên ngoài có thể mở rộng các tính năng của nền tảng sử dụng giao diện lập trình ứng dụng (API). Xét trên khía cạnh kinh doanh, người sử dụng (bên cung cấp) có thể tạo giá trị trên nền tảng cho người sử dụng khác (khách hàng) để tiêu thụ. Và đây là sự chuyển đổi toàn diện từ bất kỳ mô hình kinh doanh nào mà chúng ta đã từng biết trong nền công nghiệp còn xót lại.
Các kênh truyền hình hoạt động theo mô hình ống, nhưng Youtube lại hoạt động trên mô hình nền tảng. Encyclopaedia Britannica hoạt động theo mô hình ống, nhưng Wikipedia lại thoát ra và tạo giá trị theo mô hình nền tảng. Các lớp học vẫn hoạt động theo mô hình ống, nhưng Udemy và Skillshare lại biến đổi thành mô hình nền tảng cho giáo dục.
Sự thất bại của mô hình kinh doanh
Vậy tại sao việc phân biệt các mô hình lại quan trọng?
Mô hình nền tảng là mô hình hoàn toàn khác biệt. Nếu bạn chuẩn bị xây dựng 1 nền tảng theo cách bạn xây dựng mô hình ống, chắc chắn bạn đang đặt bạn vào thất bại.
Chúng ta đã xây dựng mô hình ống từ cách đây vài thế kỷ và chúng ta thường có xu hướng áp dụng mô hình đó khi xây dựng các nền tảng. Nền công nghiệp truyền thông đang nỗ lực chấp nhận với thực tế rằng mô hình kinh doanh đã thay đổi. Mô hình bán lẻ truyền thống, một mô hình ống, đang bị cạnh tranh bởi sự xuất hiện và phát triển của các sàn thương mại điện tử và công nghệ in-store, mà hoạt động theo mô hình nền tảng.
Tư duy mô hình ống và Tư duy mô hình nền tảng
Vậy làm thế nào bạn co thể tránh sai lầm nếu bạn kinh doanh?
Sau đây là tóm tắt ngắn sự khác nhau giữa 2 mô hình này khi kinh doanh:
VẤN ĐỀ TĂNG NGƯỜI SỬ DỤNG
Việc tăng người sử dụng là khá trực diện và rõ ràng đối với mô hình ống. Bạn thu hút người sử dụng và chuyển dần sang khách hàng có giao dịch. Khá giống như thu hút khách đặt chân vào cửa hàng bán lẻ và chuyển họ thành người mua hàng, các cửa hàng điện tử cũng tập trung vào tìm kiếm người sử dụng và chuyển dần thành khách hàng.
Rất nhiều nền tảng khi bắt đầu hoạt động và áp dụng chiến thuật của mô hình ống như trên. Tìm kiếm người sử dụng, và rồi cố gắng chuyển họ có hành động nào đó. Tuy nhiên, các nền tảng phần lớn là không có giá trị khi có một số ít người sử dụng ban đầu. Chúng rơi vào bài toán “con gà quả trứng” khi người sử dụng này (với vai trò nhà cung cấp) tạo ra giá trị cho người sử dụng khác (khách hàng).
Các nhà cung cấp tải ảnh lên Flickr và liệt kê các sản phẩm trên eBay, còn khách hàng thì tiêu thụ. Do đó, nếu không có các nhà cung cấp thì nền tảng đó không có giá trị cho khách hàng tiêu thụ, và ngược lại, nếu không có khách hàng tiêu thụ thì nền tảng đó không có giá trị cho nhà cung cấp.
Các nền tảng có 2 thách thức chính:
1. Giải quyết bài toán “con gà quả trứng” để có được cả nhà cung cấp và khách hàng tiêu thụ trên nền tảng đó
Without solving for these two challenges, driving site traffic or app downloads will not help with user acquisition.
Nếu bạn không giải quyết được 2 thách thức trên thì việc thúc đẩy tăng traffic cho website hay tăng lượng tải ứng dụng sẽ không giúp ích để tăng người sử dụng.
Các doanh nghiệp khởi nghiệp thường thất bại khi họ thực sự xây dựng mô hình nền tảng nhưng lại sử dụng tư duy mô hình ống khi tìm kiếm người sử dụng.
QUẢN LÝ VÀ THIẾT KẾ SẢN PHẨM
Tạo một mô hình ống rất khác so với tạo một nền tảng
Tạo một mô hình ống thì bạn phải luôn nghĩ tới việc tiêu thụ sản phẩm khi xây dựng. Một đại lý du lịch trực tuyến như Kayak.com là một mô hình ống, cho phép người sử dụng mua các vé điện tử. Các tính năng được xây dựng với mục tiêu để người sử dụng có thể tìm kiếm và mua các vé điện tử.
Ngược lại, khi xây dựng một nền tảng thì bạn luôn phải nghĩ tới cả các nhà cung cấp và người tiêu thụ. Xây dựng YouTube, Dribbble hay AirBnB yêu cầu chúng ta phải xây dựng các công cụ cho nhà cung cấp (ví dụ lưu trữ video trên Youtube) cũng như công cụ cho người tiêu thụ (ví dụ tính năng xem video, voting,..). Việc giữ 2 luồng suy nghĩ như vậy sẽ giúp chúng ta xây dựng được các tính năng đúng đắn.
Các dạng sử dụng mô hình ống thường được xác định khá rõ ràng. Tuy nhiên, các mô hình nền tảng thì đôi khi lại xuất hiện trong quá trình sử dụng. Ví dụ Twitter phát triển thành nhiều dạng qua thời gian. Nó bắt đầu từ thứ cho phép bạn thể hiện bản thân trong giới hạn 140 từ (không mấy có ích?), sau đó chuyển đổi thành nền tảng để chia sẻ và theo dõi tin tức, nội dung. Và cuối cùng, nó tạo ra một mô hình hoàn toàn mới cho việc tiêu thụ các vấn đề đang là nổi cộm và xu hướng. Người sử dụng thường ngạc nhiên với các hướng mới khi sử dụng nền tảng. Điều đó càng cho thấy rằng chỉ có phát triển khách hàng mới giúp bạn xác định được.
Tư duy mô hình ống: Người sử dụng tương tác với phần mềm chúng ta tạo ra. Sản phẩm có sẵn giá trị của nó.
Tư duy mô hình nền tảng: Những người sử dụng tương tác với nhau, sử dụng phần mềm chúng ta tạo ra. Các sản phẩm không có giá trị đến khi có người sử dụng dùng nó.
CHUYỂN THÀNH TIỀN
Xin nhắc lại, việc chuyển thành tiền của 1 mô hình ống là khá trực diện và rõ ràng. Bạn có thể tính tất cả các chi phí để vận hành mô hình ống đến người tiêu thụ cuối cùng và đảm bảo rằng Giá = Chi phí + Lãi dự kiến. Công thức trên là đơn giản hóa quá trình tính giá, nhưng nó thể hiện thực tế rằng khách hàng cơ bản là người tiêu thụ các giá trị tạo ra bởi doanh nghiệp.
Trong mô hình kinh doanh nền tảng, việc chuyển thành tiền không trực diện và rõ ràng như vậy. Khi nhà cung cấp và bên tiêu thụ có giao dịch (ví dụ AirBnB, SitterCity, Etsy), một hoặc cả 2 bên trả chi phí giao dịch cho nền tảng đó. Khi nhà cung cấp tạo nội dung phục vụ cho bên tiêu thụ (YouTube), nền tảng đó còn có thể thu được tiền nhờ sự quan tâm của những người tiêu thụ (qua quảng cáo). Trong một số trường hợp, nền tảng cũng có thể thu tiền phí từ việc cấp phép sử dụng API.
Vấn đề kinh tế trong mô hình nền tảng cũng không hề trực diện và rõ ràng. Ít nhất, một bên thường được trợ cấp để tham gia vào nền tảng. Các nhà cung cấp có thể được khích lệ để tham gia. Với mô hình ống, công thức đơn giản sau giúp chúng ta hiểu hơn về việc chuyển dịch thành tiền:
Chi phí giành lấy người sử dụng (CAC) < Giá trị vòng đời (LTV)
Công thức trên hoạt động rất hiệu quả với các cửa hàng điện tử hoặc các ứng dụng bán thuê bao. Trên các nền tảng, cái nhìn bao trùm qua một hệ thống là cần thiết để cân đối các khoản trợ cấp, giá, và xác định các động lực cần thiết để thu hút các bên tham gia cho mô hình kinh doanh này hoạt động.
Tư duy mô hình ống: Chúng ta tính phí người sử dụng cho giá trị chúng ta tạo ra
Tư duy mô hình nền tảng: Chúng ta cần xác định ai là người tạo ra giá trị và ai chúng ta sẽ tính phí.
Tuy nhiên…. tư duy mô hình nền tảng đang áp dụng cho tất cả các hình thức kinh doanh trên internet
Nếu internet không xuất hiện, chúng ta sẽ vẫn trong một thế giới mà mô hình ống chiếm chủ đạo. Nhưng bản thân internet, một mạng lưới, chính là một nền tảng và cho phép bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có thể sử dụng các đặc tính của nền tảng này làm đòn bẩy để kinh doanh trên internet.
Mọi hoạt động kinh doanh trên internet đều có một số đặc tính của một nền tảng.
Bài viết này đã đề cập tới về blog ở đoạn trước, các cửa hàng điện tử và các dịch vụ phần mềm SAAS hoạt động trên mô hình ống. Tuy nhiên, thực tế là chúng hoạt động được nhờ internet, thậm chí chúng có một số yếu tố khiến chúng giống như một nền tảng. Các blog cho phép nhận xét và thảo luận. Tương tác chính là việc các blogger đẩy nội dung đến người đọc, nhưng tương tác thứ cấp (giống như nhận xét) đã khiến các blog có một số đặc điểm của một nền tảng. Tức là người đọc cùng tạo ra giá trị với các bogger.
Các trang thương mại điện tử có tính năng đánh giá bởi người sử dụng, và như vậy, lại là một mô hình nền tảng “thông minh”.
Sự chấm hết của mô hình ống
Trong tương lai, tất cả các công ty sẽ trở thành các công ty công nghệ. Chúng ta đã thấy sự thay đổi xung quanh chúng ta rằng các công ty đang cải tổ lại mô hình kinh doanh của họ theo hướng sử dụng dữ liệu để tạo ra giá trị.
Chúng ta đang chuyển từ mô hình tuyến tính thành mô hình kinh doanh mạng lưới, từ một cái ống “vô tri” thành một nền tảng “thông minh”. Tất cả hoạt động kinh doanh sẽ cần chuyển đổi về mô hình mới ở một mức độ nhất định, hoặc sẽ phải chịu rủi ro cạnh tranh mà mô hình nền tảng đem lại.

72 mưu kế của Quỷ Cốc Tử muôn đời sau vẫn nguyên giá trị (Phần 1)

Quỷ Cốc Tử là một người tu Đạo thời Xuân Thu Chiến Quốc, ông tu ẩn dật một mình trong Quỷ Cốc vì thế mọi người thường gọi ông là Quỷ Cốc tiên sinh. Ông tự nhận mình là đệ tử của Lão Tử.

Với 72 kế sách tinh thâm của ông, bạn có thể cất giữ và học tập cả đời cũng không thể hết, ví dụ như: Trong tĩnh có động, trong động có tĩnh. “Biến sinh ra sự; Sự sinh mưu; Mưu sinh kế; Kế sinh nghị; Nghị sinh thuyết; Thuyết sinh tiến; Tiến sinh thoái; Thoái sinh chế (chế ngự sự việc).

Dưới đây là phiên bản đầy đủ 72 kế sách của ông:

Kế thứ 1: Dương mưu – Âm mưu

“Mưu kế trí lược, mỗi cái đều có hình dạng của nó: hoặc vuông hoặc tròn, hoặc âm hoặc dương”.

Mưu kế có âm mưu và dương mưu, trong bất kỳ tình huống nào, người ta đều không được coi thường đối phương. Bởi vì sự việc, có những việc giả dối mà đối phương cố ý tạo ra. Tình báo cũng có tình báo giả. Cho nên thánh nhân phải làm cho đối phương không thể dò biết được thực hư.

Âm mưu ở đây không phải là thứ thủ đoạn của bọn tiểu nhân, mà là âm mưu của thánh nhân.

Mưu việc ở âm mà thành sự ở dương. Mục đích là làm cho dân giàu nước mạnh.

Cho nên Quỷ cốc tử lại nói: Thánh nhân mưu ở âm nên gọi là Thần, thành ở dương nên gọị là Minh, chủ sự thành tức là tích đức vậy.

Kế thứ 2: Xoay chuyển Càn khôn

“Giữ vững ý chí, tinh thần thì sẽ có uy lực. Có uy lực ắt bên trong mạnh, bên trong mạnh thì không ai địch nổi”.
Quỷ cốc tử cho rằng: Khi tình thế bất lợi cho ta, ta phải dùng trăm phương ngàn kế để hàm dưỡng sức mạng tinh thần, và chỉ khi nào sức mạnh tinh thần của ta hùng hậu thì mới có thể xoay chuyển Càn Khôn.

Kế thứ 3: Đánh bại lần lượt

“Phân tán được uy thế của đối phương thì ta mạnh như thần”.

Muốn phân tán uy lực của đối phương thì ta phải phục sẵn, chờ cơ hội xuất hiện mà lần lượt đánh bại đối phương.

Kế thứ 4: Ứng biến thần tình

“Tiến thoái xoay trở, xuất quỷ nhập thần khiến người không biết đâu mà lần”.

Khi tác chiến ta phải tùy cơ ứng biến không nên cố định, xoay chuyển tùy ý muốn, khiến cho đối phương không đoán biết được.

Kế thứ 5: Giành hết thiên cơ

“Thánh nhân ở giữa trời đất: Lập thân, tạo nghiệp, lên tiếng, tuyên truyền đều phải quan sát tượng trời để chớp đúng thời cơ”.

Một người cao minh, trước sự biến đổi mau lẹ của sự vật, sẽ biết nắm lấy thời cơ, vận hội một cách kịp thời mà thực thi, hoặc điều chỉnh kế hoạch của mình.

Kế thứ 6: Họa phúc tùy lời

“Lời lẽ của Thánh nhân rất huyền diệu, có thể chuyển nguy thành an, cứu cả mạng sống”.

Thế gian có câu: “Một lời nói ra, ngựa giỏi chẳng đuổi kịp.” Hàn Phi Tử nói: “Cái tâm của kẻ vô mưu, lời lẽ của kẻ có mưu: đều là nguy”. Ngụ ý rằng người ta phải thận trọng trong lời ăn tiếng nói.

Ngôn ngữ là tiếng lòng, là biểu hiệu tư tưởng.

Tục ngữ Trung quốc có câu: “Muốn biết việc trong bụng, hãy nghe lời cửa miệng, họa phúc là tùy ở lời nói vậy”.

Kế thứ 7: Chúng bất địch quả

Quỷ cốc tử nói: “Xuân sinh; Hạ trưởng; Thu thu; Đông tàng. Đạo trời là vậy, chẳng thể làm trái.” Lại nói: “Làm trái, dù thịnh ắt suy”.

Trời đất có 4 mùa thay đổi, nhân sự cũng có quy luật biến hóa của nó, mỗi người nếu có hành động trái ngược với quy luật phát triển của sự vật, thì dù thế lực lớn mạnh đến mấy cuối cùng cũng sẽ thất bại.

Một người, nếu hành động đúng theo quy luật phát triển của sự vật, thì dù hiện thời còn đơn thương độc mã, nhưng rồi vẫn có thể lấy ít thắng nhiều.

Kế thứ 8: Trăm phương ngàn kế

“Vạn sự trên thế gian biến hóa vô cùng, tình hình lúc thế này khi thế khác. Người đời cũng trăm phương ngàn kế.” Một vị chủ soái ắt hẳn cũng phải nắm vững nhiều loại mưu kế để ứng phó với tình huống không ngừng thay đổi.

Kế thứ 9: Thiên địa vô thường

“Trời đất luôn thay đổi há có gì trường cửu”.

Một cái lý chung xuyên suốt giữa trời và người. Khi trời luôn đổi, nhân sự làm sao bất biến. Một người chỉ một mực theo đuổi truyền thống mà không chịu đổi mới, ắt sẽ bị lạc hậu so với thời cuộc.

Kế thứ 10: Thay cũ đổi mới

“Uốn lượn thì toàn vẹn, cong ắt sẽ qua, đầy ắt sẽ tràn, rách nát sẽ đổi mới, ít rồi đủ, nhiều ắt giảm”.

Thay cũ đổi mới là quy luật phát triển của vạn vật trong vũ trụ . Song sáng tạo cái mới bao giờ cũng dựa trên cơ sở truyền thống sẵn có. Không kế thừa truyền thống thì đừng nói gì đến sáng tạo cái mới.

Phải hiểu thấu đáo truyền thống mới có thể tiếp nhận tinh hoa và gạt bỏ cặn bã, từ đó mà phát huy thêm tinh hoa của truyền thống.

Kế thứ 11: Nhìn xa trông rộng

“Bậc đại trí dùng cái mà mọi người không hay biết, cũng dùng cái mà mọi người không nhìn thấy”.

Cái mà mọi người không hay biết, không nhìn thấy thì chỉ có bậc đại trí mới thấy rõ. Như vậy gọi là “biết nhìn xa trông rộng”.

Kế thứ 12: Xử lý linh hoạt

“Lợi hay thiệt, được hay mất, nhiều hay ít… đều dùng âm dương chế ngự. Dương động mà vận hành, âm tĩnh mà thu tàng. Dương động mà hiện ra, âm theo mà nhập vào. Dương cực sinh âm, âm cực sinh dương”.

Vạn vật trong thiên hạ luôn luôn thay đổi. Khí hậu có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông luôn đổi thay. Đời người có sống chết, đủ thấy biến đổi là quy luật phát triển của vạn vật. Ta phải linh hoạt chứ không máy móc xử lý mọi việc mới có thể: “Thắng không kiêu, bại không nản”.

Kế thứ 13: Mưu thâm thích hợp

“Phàm theo hay bỏ, thuận hay nghịch phải tùy theo hoàn cảnh. Hợp ở mưu ắt thành ở sự, bỏ ta theo người hay bỏ người theo ta: ấy là do mưu thuật có toàn vẹn hay không?

Dùng thiên hạ có mưu kế này, dùng một nước có mưu kế khác, dùng một phái có mưu kế nọ, dùng một người có cách dùng riêng. Lớn nhỏ tiến thoái… đều có cách thích hợp.

Xưa nay, kẻ giỏi xoay trở: theo hay bỏ, giúp được 4 biển, chi phối được chư hầu đều trải qua lắm phen chuyển hóa, theo hay bỏ, mới tìm ra chỗ thích hợp.

Cho nên Y Doãn mấy bận theo vua Thang, mấy bận theo vua Kiệt, cuối cùng mới theo vua Thang.

Lã Vọng 3 lần theo Văn Vương, 3 lần nhập điện vẫn chưa thật rõ. Cuối cùng mới hợp với Văn Vương.”

Kế thứ 14: Hành động bí mật

“Đạo âm của Thánh hiền, đạo dương của kẻ ngu, đạo của Thánh nhân ẩn giấu rất kỹ”.

Tướng soái khôn ngoan thường tạo nên những cái giả để mê hoặc đối phương, ngấm ngầm hành động để giáng cho đối phương những đòn trí mạng.

Kế thứ 15: Đột phá điểm yếu

“Từ ngoài chế ngự bên trong, sự việc có điểm cốt lõi phải nhắm vào đó”.

Muốn khống chế nội tâm kẻ khác thì phải nắm chắc: đâu là điểm mấu chốt, đâu là chỗ yếu để mà chĩa mũi nhọn vào đó.

Kế thứ 16: Nhỏ mà thấy lớn

“Quan sát sự việc, luận về vạn sự, chớ tranh hơn thua. Phải biết nhìn: cái tuy nhỏ nhưng mà nhìn thấy nó lớn lao”.

Người thông minh chỉ căn cứ vào triệu chứng nhỏ bé mà biết nó tiềm ẩn sự kiện trọng đại.

Kế thứ 17: Đổi vai chủ – khách

“Mạnh tích tụ từ yếu, có tích tụ từ không. Yếu muốn thắng mạnh, mềm muốn thắng cứng thì phải tích yếu, tích mềm.”

So sánh thế giữa chủ và khách để đổi vai chủ khách.

Đó cả là một nghệ thuật.

Kế thứ 18: Chiêu nạp người hàng

“Cự tuyệt là bịt kín lối vào, đề phòng quá kỹ thì chẳng ai theo”.

Một vị chủ soái thông minh thì phải có khí phách của một chính trị gia vĩ đại, sẵn sàng chiêu nạp những ai muốn chạy về phía mình.

Kế thứ 19: Ứng địch hành động

“Tuy động mà ứng, việc gì cũng xong.” Ứng nghĩa là chuyển động sau người, bất đắc dĩ mới động. “Ứng” đây không phải là thái độ tiêu cực, bất đề kháng, mà là dùng “vô vi” để đạt tới cảnh giới “vô bất vi”.

Một cá nhân, nếu ở đâu cũng hiếu thắng, tranh giành hơn thua: thì thể lực và tinh thần sẽ bị hao tổn rất nhanh, tuổi thọ sẽ chẳng được lâu bền.

Ngược lại, nếu hiểu rõ lẽ “ứng địch nhi động” thì sẽ không vọng động một cách khinh xuất. Mà không ngừng rèn luyện thể lực và ý chí một cách nghiêm túc, cho đến khi hoàn toàn có khả năng thắng địch thì mới hành động. Không làm thì thôi, mà đã ra tay thì không có gì cản nổi, đã đánh là thắng.

Kế thứ 20: Tam giáo cửu lưu

“Tìm kiếm nhân tài, phải tìm khắp xa gần. Phải có người tài về từng phương diện để khi cần thì ta có thể xử dụng.” Một người muốn dựng nghiệp lớn thì phải chiêu nạp nhiều tài năng.

Tử Nghiêm là người nước Trịnh rất biết chọn và dùng người. Công Tôn Huy am hiểu tình hình 4 nước. Tỳ Thâm thì giỏi bày mưu. Phùng Giản Tử có tài phán đoán mọi sự. Tử Đại Thúc thì văn hay chữ tốt.

Gặp sự việc liên quan giữa các nước. Tử Nghiêm hỏi Công Tôn Huy, sau đó bàn mưu tính kế với Tỳ Thâm, đoạn để Phùng Giản Tử phán đoán mọi khả năng diễn biến của sự việc. Sau khi xong việc bèn để Tử Đại thúc soạn lời văn ứng đối với quan khách các nước.

Kế thứ 21: Bổ dọc chen ngang

Quỷ Cốc Tử nói: “Dùng cách phân tán uy quyền để chuyển quyền”. Người tài giỏi nhất phải biết phá vỡ sự liên minh của các đối thủ phân tán uy lực của chúng mà tăng cường uy thế của mình.

Kế thứ 22: Trói buộc chi phối

“Lập thế tạo thế. Phải quan sát, nghe ngóng, xác định mức độ của người và việc mà định kế an nguy. Xem thiên thời thịnh suy, địa hình rộng hẹp của các quốc gia, tài sản của dân chúng, quan hệ giữa các chư hầu mà dùng thiên hạ. Xem tài năng, khí thế, sức vóc mà dùng người.

Xem cái gì, người nào cần giấu giếm hay phô bày, cần dung nạp hay mời chào. Xem Đông Tây, ngó Nam Bắc. Rồi dùng mọi biện pháp khả dĩ để chi phối, trói buộc một cá nhân, một tập đoàn hay một quốc gia làm theo ý muốn của mình, để họ không thể nào làm khác được.”

Kế thứ 23: Liệu địch như thần

“Ngồi một chỗ mà nắm biết mọi chuyện trong thiên hạ”.

Bậc đại trí có thể qua mọi diễn biến phức tạp, chằng chịt, qua hiện tượng mà nhận biết phương hướng hành động thật sự của đối phương.

Kế thứ 24: Không lừa nổi ai

“Kế sách dù muôn ngàn kiểu, cuối cùng cũng không nằm ngoài tâm lý con người”.

Người thông minh, tỉnh táo, từ triệu chứng nhỏ nhặt tưởng như không đáng kể mà nắm bắt được sự kiện trọng đại để phá vỡ âm mưu của đối phương.

Kế thứ 25: Yếu thắng được mạnh

“Mạnh tích tụ từ yếu, có tích tụ từ không. Đó là cả một nghệ thuật”.

Yếu muốn thắng mạnh, mềm muốn thắng cứng thì phải tích yếu, tích mềm. Yếu và mạnh chỉ là 1 cách nói tương đối. Trong tình huống nhất định, yếu cũng có thể thắng được mạnh.

Kế thứ 26: Biến không thành có

“Thần đạo hỗn thuần vi nhất, dù đạo trời phức tạp đến mấy cũng có thể suy diễn bất tận”.

Bậc quân tử hay thống soái có thể suy luận hàng vạn lý lẽ biến hóa trên thế gian để lý giải các bí ẩn vô cùng vô tận.

Kế thứ 27: Uốn ba tấc lưỡi

“Lời lẽ khôn khéo hay giả dối đều lợi hại khôn tả”.

Người khôn khoan thường lợi dụng ngôn từ để vẽ ra lâu đài trên cát, kích thích người ta hăng hái hay dẫn dụ đối phương mắc lừa.

Muốn được vậy thì phải tô điểm cho thật khéo và nói năng phải thật hùng hồn, đầy sức dẫn dụ và thuyết phục.

Kế thứ 28: Thu phục nhân tâm

“Dùng tâm hệ trọng hơn dùng binh”.

Dùng binh vẫn phải lấy việc dùng tâm làm nguyên tắc cao nhất. Chỉ dùng binh mà không dùng đến tâm thì rất là nguy hiểm. Bởi lẽ dùng binh vốn là để giết địch, nếu ta thất bại thì địch sẽ giết ta. Cho nên dùng binh cũng có thể đem lại hậu quả “tự giết mình”.

Dùng binh hoàn toàn không chỉ giới hạn ở việc dùng mệnh lệnh hay kỷ luật bắt người ta phục tùng, mà còn phải làm cho người ta “tâm phục”. Lòng người đã phục thì dù hành động, động tác có thể chệch choạc, song hết thảy đều đồng lòng như một.

Kế thứ 29: Một công đôi việc

“Vừa lợi cho mình mà cũng lợi cho người, trên hay mà dưới cũng tốt”.

Một mưu kế phải đem lại nhiều hiệu quả thì mới là kế hay, kiểu như một mũi tên mà bắn trúng 2 con chim.

Kế thứ 30: Bốn lạng ngàn cân

“Lượng quyền là gì? Là đo lường lớn nhỏ, xác định nhiều ít”.

Tướng soái thì phải “biết mình biết người” mới có thể dùng sức “bốn lạng mà thắng ngàn cân”.

Thông thường thì 4 lạng có thể bị đè bẹp bởi ngàn cân. Nhưng nếu sức bốn lạng khôn khéo tránh né sức ngàn cân, rồi sau đó giáng đòn thì có thể hoàn toàn thắng ngàn cân.

Kế thứ 31: Ngàn vàng phá địch

“Mọi sự đều có sự cố kết bên trong, có thể dùng tiền tài, nhan sắc để phá vỡ sự cố kết ấy”.

Dùng nhiều tiền để mua chuộc, ly gián nội bộ đối phương có thể thu được thắng lợi mà ở chiến trường không thể nào giành được.

Kế thứ 32: Chủ động quyền biến

“Sự việc quý ở chỗ mình chủ động, nếu để cho người giành được phần chủ động thì hỏng”.

Người chủ động thì mới giành được quyền hành, quyền biến. Đã bị động thì khó mà đạt được thắng lợi. Khi lâm sự phải sáng suốt, cân nhắc lợi hại, bỏ cái lợi nhỏ mà tránh cái hại lớn, nhận cái hại nhỏ để giành cái lợi lớn.

Phép thứ 33: Tuyệt đối bí mật

“Giữ kín mưu đồ thì việc mới thành”.

Một vị thống soái hay tướng lĩnh muốn giành thắng lợi phải tuyệt đối giữ bí mật.

Kế thứ 34: Kích động vua chúa

“Tiếp xúc, phán đoán có nhiều cách: hoặc dùng binh, hoặc dùng chính, hoặc dùng hỷ, hoặc dùng nộ… Dùng nộ là kích động”.

Người khôn ngoan chẳng những dùng lời lẽ để thuyết phục, phân trần, mà còn phải dùng những lời lẽ để kích động, nói khích vua chúa.

Kế thứ 35: Kế sách lâu dài

“Người thông minh thì luôn nhìn cái rất xa để mà kiểm nghiệm”.

Người khôn ngoan thì phải biết nhìn xa trông rộng, sẽ không tham cái lợi nhỏ mà để mất cái lớn, tham cái lợi trước mắt mà quên kế sách lâu dài.

Người có đảm lược thật sự thì biết tính toán sâu xa, chu đáo, không chỉ thấy cái trước mắt, không chấp vào tập quán thông thường.

Kế thứ 36: Biết trước thời thế

“Dự đoán thời thế để quyết định lợi hại, quyền biến”.

Một thống soái hay một tướng lĩnh nắm được thời là điều trọng yếu. Họ phải hành động lặng lẽ một khi hết thảy chưa ai chú ý, đến lúc thời cơ chín muồi là họ ra tay: lập tức làm nên chuyện lớn.

Xu hướng xây dựng ứng dụng cho mô hình thương mại điện tử B2B, B2C năm 2016

Năm 2016 các mô hình website thương mại điện tử B2B, B2C cần xây dựng ứng dụng APP mobile riêng cho mình.

Chúng ta đã quen thuộc với các thông kê gần đây cho thấy mức độ tăng trưởng sử dụng điện thoại rất ngoạn mục và đã vượt PC trở thành thiết bị truy cập internet nhiều nhất. 90% người sử dụng điện thoại đang sở hữu ít nhất 1 chiếc smartphone.

Hiện nay hầu hết các website đều đã dùng phiên bản cho thiết bị di động. Tuy nhiên chỉ có một tỉ lệ rất ít sử dụng ứng dụng (app) cho website B2B của mình. Họ cho rằng, điều đó là không cần thiết vì hiện website của họ vẫn đang thu hút được cộng đồng sử dụng dịch vụ thông qua giao thức web http và https.

Họ không sai trong hoàn cảnh hiện tại nhưng cần phân tích thời điểm thích hợp để nâng cấp lên ứng dụng di động. Dưới đây là 3 dấu hiệu cần cho việc nâng cấp để tối ưu hoạt động kinh doanh.

1. Tỉ lệ người quay trở lại website trên 50% mỗi tháng.

 

Điểm dễ nhận thấy trong trường hợp này website đã có một lượng khách hàng trung thành tiềm năng. Điều này đồng nghĩa website đang cung cấp những tiện ích hữu dụng cho một lượng lớn người dùng. Tùy loại hình dịch vụ bạn cung cấp, sẽ có từ 5% – 15% trong số này sẵn sàn cài ứng dụng website (app) của bạn để phục vụ nhu cầu của chính họ. Đây cũng là “khách hàng tiềm năng nhất” có thể đem lại trên 40% doanh thu cho doanh nghiệp.

2. Bạn muốn giới thiệu các sản phẩm mới nhất cho từng loại đối tượng.

Hãy quên đi những thời khách hàng điền vào chức năng nhận Newsletter để nhận lại hàng loạt Spam mail, đa phần họ xóa đi sau lần đọc lướt đầu tiên và thậm chí xóa ngay khi nhìn thấy tiêu đề email của bạn. Với ứng dụng điện thoại, khách hàng có thể lựa chọn bộ lọc dịch vụ họ quan tâm và hệ thống sẽ chỉ gửi những thông điệp đáp ứng đúng nhu cầu của họ. Họ cũng sẽ không cảm thấy khó chịu khi phải đọc lượng nội dung quá dài như trong email và có thể xem những gì họ muốn tại một thời điểm thích hợp để đọc.

3. Tính năng của web quá nhiều và khó sử dụng.

Đây là nhược điểm cố hữu của các trang thương mại điện tử cỡ lớn. Nếu ai đó phàn nàn website của bị rối mắt. Khách hàng phải chọn lọc quá nhiều thông tin trên phiên bản website để tìm được nội dung họ mong muốn. Nói cách khác rất ít website lớn xử lý được nhược điểm rối mắt khi đã phát triển được lên tầm cao mới. Đừng vội cho rằng người đó không chịu mày mò các chức năng trên web. Họ đã mất cả ngày làm việc mệt nhọc và sẽ nhanh chóng cảm thấy mệt mỏi để tìm thấy nội dung họ cần. Giao diện đơn giản và hiệu ứng loading mượt mà từ ứng dụng sẽ giúp khách hàng quên đi điều đó.

Suy cho cùng, công nghệ là luôn phát triển. Những người nắm được thị phần Online là những người phát hiện được ra xu hướng người dùng sớm hơn các đối thủ còn lại. Do vậy hãy đừng chần chừ để có quyệt định sáng suốt cho mình.

 

Hướng dẫn sử dụng Email marketing Amazon SES

Amazon SES tên đầy đủ là Amazon Simple Email Service là một dịch vụ SMTP server cho phép người dùng gửi email marketing với số lượng lớn có giá thành rẻ và chất lượng tốt nhất bây chừ (giá chỉ 0,1$/1000 email). Với tốc độ gửi rất nhanh, khả năng vào Inbox luôn cao và đặc biệt là phương thức thanh toán thuận tiện (bạn chỉ cần nạp trước tiền bằng thẻ VISA giống như SIM điện thoại, gửi bao lăm Amazon sẽ tự động trừ trong thẻ bấy nhiêu) do đó hiện thời dịch vụ Amazon SES đang là sự lựa chọn hàng đầu của các cá nhân chủ nghĩa và doanh nghiệp trong giải pháp Email Marketing.

Hướng dẫn khởi tạo tài khoản Amazon SES:

Bước 1: Đăng ký tài khoản

Đăng ký thành viên bằng cách truy cập vào link sau: https://console.aws.amazon.com/ses/home để đăng ký dịch vụ gửi email marketing SES của Amazon (Simple Email Service).

Điền email và chọn I am a new user như hình sau rồi nhấn Sign in using our secure server:

[​IMG]

tiếp kiến điền đầy đủ các thông báo trương mục như hình sau rồi nhấn Continue:

[​IMG]

Nhấn Sign up for AWS để khởi tạo trương mục:

[​IMG]

Điền đầy đủ các thông báo (nên điền luôn thông tin thẻ tín dụng của các bạn), lưu ý phần Zip or Postal Code cần điền đúng mã của tỉnh của bạn, có thể xem zip code của tỉnh mình tại đây, phần số điện thoại phải điền số điện thoại thật để chính xác cho bước sau, nhấn Create Account and Continue để khởi tạo account:

[​IMG]

Điền các thông tin trên thẻ tín dụng của bạn vào (chọn visa hoặc master đúng với thẻ của bạn) và nhấn Continue:

[​IMG]

Bước 2: chuẩn xác số điện thoại

Phần Country Code chọn Vietnam(+84), phần Phone number thì để măc định số điện thoại mà bạn đã khai báo ở bước 1, nhấn Call Me Now để bên Amazon gọi điện chính xác:

[​IMG]

Nếu số điện thoại bạn khai báo là có thật thì ngay tức khắc tổng đài tự động của Amazon sẽ gọi điện để xác thực đồng thời trên trình duyệt web sẽ hiển thị số pin của bạn, nếu bạn không biết nhiều về tiếng Anh thì cứ… tự tín mà nhấn nút nghe và không cần biết họ nói gì, tuy nhiên khi họ ngừng nói hãy bấm 4 số pin mà họ cung cấp trên website vào và giữ máy cho đến khi họ tự chấm dứt cuộc gọi.

[​IMG]

Nếu số Pin bạn nhập xác thực thì sẽ được báo như hình sau, nhấn Continue để chuyển sang bước tiếp theo:

[​IMG]

Bước 3: Chọn gói dịch vụ và xác nhận đăng ký

chấm dứt bước 2 sau khi nhấn Continue bạn chọn gói Basic (Free) như hình rồi nhấn Continue:

[​IMG]

Check mail bạn sẽ nhận được Email thông tin chuẩn xác trương mục, nhấn vào link liên kết để xác nhận:

[​IMG]

Đăng nhập vào account như hình sau:

[​IMG]

Vào Services chọn SES như hình sau:

[​IMG]

Nhấn Sign Up For Amazon SES để kết thúc công việc xác thực đăng ký account:

[​IMG]

Thông thường sẽ mất vài tiếng để Amazon xác minh tài khoản của bạn, đến khi Amazon setup xong sẽ gửi email thông tin thành công và bạn vào lại link trên sẽ không còn nút Sign Up for Amazon SESnữa.

Bước 4: Nâng cấp trương mục

Mặc định trương mục Basic của Amazon là cho phép bạn gửi 200 mail/ ngày, do đó bạn cần nâng cấp tài khoản lên để được phép gửi 10.000 email/ ngày.

Bạn truy cập lại vào trang quản lý của Amazon SES, đấu bấm vào nút Request Production Access.

[​IMG]

Điền đầy đủ các thông tin như hình sau:

[​IMG]

Đợi khoảng vài tiếng đến 24 tiếng nếu mọi thông báo của bạn đều chính xác sẽ có email như sau gửi về thông tin nâng cấp thành công:

[​IMG]

Vào lại phần SES sẽ thấy giới hạn gửi email là 10.000 email/ ngày:

[​IMG]

Bước 5: Tạo Access Key ID và Secret Access Key

Tại trang quản lý của Amazon SES bạn click chuột vào tên account sau đó chọn Security Credential:

[​IMG]

Click vào Access Key (Access Key ID and Secret Access Key):

[​IMG]

Click Creat New Access Key:

[​IMG]

Nhấn Show Access Key để lấy thông báo Access Key ID and Secret Access Key, bạn có thể download thông tin về để lưu trữ:

[​IMG]

Bước 6: Đăng ký chính xác địa chỉ Email gửi mail

Click vào Email Addresses -> Verify a New Email Address

[​IMG]

Điền email bạn muốn dùng để gửi email marketing vào (bất cứ email nào mà bạn sở hữu) -> nhấnVerify this Email Address

[​IMG]

Bạn vào email vừa đăng ký để nhấn công nhận, sau khi xác nhận xong thì khoảng 1-2 phút email của bạn sẽ được công nhận và có thể là verified như hình:

[​IMG]

Ngay từ hiện nay bạn đã có thể sử dụng email marketing của Amazon SES với giới hạn 10.000 email/ ngày với hoài chỉ khoảng hơn 20.000 vnđ/ ngày.

Để sử dụng hiệu quả dịch vụ Amazon SES các bạn có thể dùng phần mềm Mass Amazon Mailer do chính Aloxovn.Com cung cấp !

Chúc bạn thành công!

MỤC TIÊU – Quá trình liên tục hoàn thiện (The Goal) – Eliyahu M. Goldratt, Jeff Cox

Cuốn The Goal là một tác phẩm khác thường trong thế giới sách quản trị kinh doanh vì 2 lý do. Thứ nhất, Goldratt không phải là ngôi sao hay cây đại thụ trong lĩnh vực này, cũng không phải là giáo sư của các trường kinh doanh danh tiếng hoặc chuyên gia tư vấn. Ông chỉ là một nhà vật lý. Thứ hai, quyển The Goal về bản chất là một cuốn tiểu thuyết, không phải sách kinh doanh.
muctieu
Nội dung tiểu thuyết xoay quanh nhân vật Alex Rogo, một quản lý sản xuất mang trọng trách cứu sống một nhà máy thua lỗ. Ngoài ra, Rogo còn phải tìm ra phương cách để có thể cứu vãn cuộc hôn nhân đang trên đà tan vỡ của mình. Trong tình thế đó, Rogo phát hiện ra “Phương pháp Socrates” và sử dụng nó để giải quyết ổn thỏa chuyện hôn nhân. Sau đó, ông áp dụng phương pháp này cho đội ngũ nhân viên tại nhà máy và nhanh chóng cùng họ tìm ra giải pháp.
“Lý thuyết về những hạn chế” (Theory of Constraints) cũng được Goldratt lý giải rõ ràng trong The Goal. Theo lý thuyết này, “sức bền của một dây xích chính là sức bền của mắc xích yếu nhất”. Sức mạnh tập thể sẽ phụ thuộc vào mỗi cá nhân, cũng như sự vận hành trơn tru của hệ thống sẽ phụ thuộc vào mỗi bộ phận riêng lẻ.
— hai2hai tóm tắt —
MỤC TIÊU (duy nhất) của mỗi doanh nghiệp không là gì khác ngoài việc kiếm ra tiền cả hiện tại lẫn trong tương lai.
Những chỉ số tài chính mô tả MỤC TIÊU tạo ra tiền, ở đây có 3 chỉ số cơ bản sau:
  • Lợi nhuận thực (Net Profit – NP) (hay còn gọi là lãi ròng)
  • Giá trị trả về trên sự đầu tư (Return on Investment – ROI) (hay còn gọi là Tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư)
  • Dòng tiền mặt (Cash Flow – CF)
Việc kiếm ra tiền bằng cách tăng lãi ròng, trong khi đồng thời tăng tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tưđồng thời tăng dòng tiền mặt
Những chỉ số đo đạc phù hợp để mô tả MỤC TIÊU của một hệ thống kinh doanh:
  • Thông lượng (Throughput – TP): Tốc độ tạo ra tiền của hệ thống thông qua việc bán hàng. Doanh thu bán hàng – Chi phí nguyên vật liệu
  • Tồn kho (Inventory – I): Tất cả tiền đã đầu tư cho hệ thống để mua những gì sẽ dự định bán.
  • Chi phí hoạt động (Operational Expense – OE): Tất cả tiền mà hệ thống đã tiêu tốn để chuyển tồn kho thành thông lượng.
(Bất cứ khoản tiền nào ta mất đi đó là chi phí hoạt động; bất cứ khoản tiền đầu tư ta có thể bán đi đó là hàng tồn kho)
Ở các công ty PM thì hàng tồn kho chính là các sản phẩm phần mềm và dịch vụ cung cấp cho KH mà có thể đem lại tiền (hợp đồng bán PM và thiết bị kèm theo, hợp đồng nâng cấp PM, hợp đồng bảo trì,…)
Những công thức sau đây thể hiện mối quan hệ giữa những chỉ số đo đạc MỤC TIÊU trong một hệ thống với các chỉ số tài chính:
  • NP = TP – OE
  • ROI = NP/I
  • CF sẽ được chấp nhận nếu: doanh thu tích lũy + tiền mặt ban đầu > chi phí tích lũy
Muốn đạt được hiệu quả trong các hệ thống kinh doanh chúng ta cần phải có những quyết định nhằm tăng Thông lượng (TP), giảm Tồn kho (I), giảm Chi phí vận hành (OE).
Tóm lại:

MỤC TIÊU

là phải

(1) giảm chi phí hoạt động,

(2) giảm lượng tồn kho, đồng thời

(3) tăng thông lượng

2 hiện tượng có mặt ở mọi hệ thống:
  • Biến cố phụ thuộc: Biến cố xảy ra sau phụ thuộc vào biến cố trước nó
  • Dao động thống kê: Biến cố phụ thuộc kết hợp với 1 hiện tượng khác. Có nhiều loại thông tin không thể tiên đoán được 1 cách chính xác tạo nên dao động thống kê.
Phần lớn những yếu tố quan trọng cho việc điều hành thành công 1 hệ thống kinh doanh không thể xác định được 1 cách chính xác.
Nguồn lực ách tắc là bất cứ nguồn lực nào có công suất bằng hoặc thấp hơn nhu cầu đặt ra với nó
Nguồn lực không ách tắc là bất cứ nguồn lực nào có công suất cao hơn nhu cầu đặt ra với nó
Ví dụ: Bộ phận KD đạt yêu cầu doanh số đặt ra nhưng Bộ phận triển khai luôn không đáp ứng theo đúng yêu cầu đặt ra thì “bộ phận triển khai” là nguồn lực ách tắc và “Bộ phận KD” là nguồn lực không ách tắc.
Có 9 quy tắc biểu diễn mối quan hệ giữa nguồn lực ách tắc và các nguồn lực không ách tắc và quy tắc đầu tiên là cân đối lưu lượng sản phẩm xuyên suốt hệ thống kinh doanh với nhu cầu từ thị trường mà cụ thể là làm cho lưu lượng đi qua nguồn lực ách tắc thấp hơn 1 chút so với nhu cầu thị trường (vì nếu bằng thì gây nên nhu cầu thị trường giảm xuống). Không nên tăng công suất cho những chỗ ách tắc để trở thành nguồn lực không ách tắc mà là tìm đủ công suất cho những nguồn lực ách tắc để cân bằng hơn so với nhu cầu.
Công suất của toàn doanh nghiệp bằng với những công suất ở những chỗ ách tắc. Vì thế, một giờ bị mất ở chỗ ách tắc chính là 1 giờ bị mất cho toàn hệ thống.
Để tối ưu hóa việc sử dụng những nguồn lực ách tắc thì:
  • Thứ nhất, bảm đảm làm sao thời gian những chỗ ách tắc không bị lãng phí (không để nó đứng yên mà không chịu làm việc, không thực hiện các công việc không đúng (làm sai tốn thời gian), hoặc không thực hiện các công việc không cần thiết)
  • Thứ 2, giảm bớt tải cho các nguồn lực ách tắc và chuyển sang cho nguồn lực không ách tắc
Trong 1 doanh nghiệp, càng nhiều người biết đâu là nguồn lực ách tắc và hiểu tầm quan trọng của chúng thì càng tốt cho doanh nghiệp. Ở mỗi loại hình doanh nghiệp thì có cách phổ biến những vấn đề này thế nào (ví dụ thực hiện hệ thống ưu tiên với việc đánh thứ tự ưu tiên qua trạng thái, màu sắc, qua số thứ tự,…)
“Tận dụng” một nguồn lực có nghĩa là dùng nguồn lực đó theo cách sao cho có thể giúp 1 hệ thống hướng tới mục tiêu
“Kích hoạt” một nguồn lực cũng giống như bật nút MỞ trên công tắc của một cái máy; có cứ hoạt động bất kể có thu được lợi ích gì từ công việc nó đang làm hay không. Vì thế, kích hoạt tới mức tối đa một nguồn lực không ách tắc là một hành động đại ngu xuẩn.
Sưu tầm ——————- THE END —————–